• youtube
  • facebook

Từ chuyện cụ Từ Chi, nghĩ về văn nghệ Gia Lai…

1. Cụ Từ (nhà dân tộc học Từ Chi) sinh thời có lần ngồi với tôi trong một khu nhà mồ của người Jrai ở Ayun Pa, giảng giải cho tôi hay cái sự trưởng thành của đời sống một con người, nó có những tiến trình ra sao và mỗi “đoạn” có những diễn biến gì, theo con mắt của nhà dân tộc học. Ngày ấy, tôi còn khá trẻ và cụ thì cũng đã “hơi bị” già. Tôi đưa cụ xuống các làng vùng sâu ở Chư Prông, Đức Cơ, Ayun Pa có khi tới cả tháng trời. Hai “anh em” đi và đến đâu cũng rộn ràng vui vẻ (dù tôi vẫn quen gọi anh là “cụ”).

Gặp lại người cũ của làng, chúng tôi đều tay bắt mặt mừng chuyện trò một lúc, rồi thì tôi và người bản địa dẫn cụ Từ đi thăm nhà mồ, thăm nhà rẫy. Tối về  uống rượu cần và “cụ” không khi nào không hỏi, nhất là với người già. Cụ cũng luôn sẵn sàng giảng giải cho tôi hay cho bất kỳ ai trước những thắc mắc. Vì sao mà một con người ở mãi tận Hà Nội vô đây lại biết nhiều thứ đến vậy? Hỏi ra mới biết, hồi trẻ đi lính “cụ” đã từng vô xứ này, làm lính đóng quân ở đây, không nhiều nhưng đủ cảm nhận về con người và không gian rừng thời còn nguyên sơ chứ chưa bị tàn phá như bây giờ.

Lễ hội bỏ mả của dân tộc Bahnar. Ảnh: Trần Phong
 

Lễ hội bỏ mả của dân tộc Bahnar. Ảnh: Trần Phong

Sau các chuyến đi thực tế về là cụ lại lao vào đọc sách. Sách tiếng Pháp, sách tiếng Anh. Cụ tự học vì hồi ấy chỉ có mỗi con đường tự học. Cụ bảo sự học ở đời thì muôn nẻo muôn đường. Học từ trong sách, học từ các loại từ điển. Cụ đọc sách và cóp nhặt và nghĩ ngợi và sáng tạo theo cách của mình. Các ý tưởng của cụ sâu sắc, chuẩn xác và cởi mở giúp cho người đọc tiếp nhận thông điệp một cách tự nhiên, nhẹ nhàng. Có lẽ đó là lý do nhà dân tộc học hàng đầu Việt Nam này được các đồng nghiệp người Pháp rất ngưỡng mộ.

Sau này về Hà Nội, tôi tình nguyện làm đệ tử theo cụ đi nhậu chơi với các đấng bậc hồi ấy khá nổi tiếng như các anh: Đào Hùng, Thái Bá Vân, Nguyễn Tấn Cứ, Trần Quốc Vượng. Tôi về Gia Lai khoe với anh Trịnh Kim Sung (thường gọi là Sanh)-Trưởng ty Văn hóa lúc bấy giờ. Vậy là anh Sanh nồng nhiệt ủng hộ và ra tận Hà Nội mời cụ vô “chơi một chuyến”. Tôi phải mở ngoặc đơn một tí ở chỗ này về anh Sanh, một cán bộ có cái tâm cái tình rất sâu sắc và cởi mở, rất có lòng với sự nghiệp văn hóa tỉnh nhà. Hồi ấy nghe ai giỏi ai tài ở Hà Nội là Trưởng ty đều tìm cách kết nối. Kết nối và tạo điều kiện tối đa dù ai cũng… nghèo. Chủ nhà nghèo, khách nghèo, ăn ngủ đi lại có gì “chơi” nấy, không nề hà. Có hôm bù khú ở nhà Trưởng ty thâu đêm chỉ với bình rượu sâm Ngọc Linh nhắm với lạc rang, bắp nướng mà vẫn rôm rả hoành tráng…

Cụ Từ sau nhiều năm không viết gì-nay về Gia Lai được Trưởng ty mời hẳn hoi, rồi cho hẳn một chú em nhiếp ảnh gia (là Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Trần Phong) đi tháp tùng mà chẳng yêu cầu gì, tùy cụ viết gì làm gì cứ theo ý cụ-nên đã nuôi ý tưởng cho cuốn sách thể hiện rõ các minh họa về hoa văn ở cây cột gưng, trên nhà rông, trên váy, khố, rồi họa tiết trên các mảng, các phần trang trí khác của nhà mồ, nhà ở… Để từ đó ta hiểu thêm quan niệm về vũ trụ của mỗi tộc người từ khi người nguyên thủy biết vẽ hình trên hang đá, tức là lúc bắt đầu hình thành tư duy nghệ thuật cho đến khi con người bay lên mặt trăng. Kiến thức loài người có được là do các học giả biết cóp nhặt và dành dụm hết đời này sang đời kia, lưu giữ lại mà thành. Mà thời đại nào trước mặt con người ta cũng đầy rẫy những câu hỏi, những câu đố. Mỗi câu đố có muôn vàn cách giải. Giải xong câu này thì lại sinh ra câu khác. Cứ như vậy con người luôn luôn được thiên nhiên thách thức, gợi mở.

Sau chuyến đi năm đó về, cụ Từ Chi cho ra mắt cuốn sách “Hoa văn các dân tộc Gia Rai, Ba Na” do chính Sở Văn hóa ấn hành năm 1986. Thật tuyệt vời!

2. Những ngày sau giải phóng, tôi có đôi lần theo anh Nay Pha, anh Nay Nô về vùng Ayun Pa chơi. Anh Nay Nô là nhà văn, hội viên người Jrai duy nhất của Hội Nhà văn ở thời điểm ấy; còn anh Nay Pha là nghệ sĩ đàn t’rưng số một của Tây Nguyên, người đã từng đưa đàn t’rưng đi giới thiệu với thế giới bằng tài nghệ siêu việt của mình. Thế mà về già anh chuyên chú chế tác đàn t’rưng cho lớp trẻ đâu được vài ba năm rồi cũng mệt mỏi, dần dần đi vào miền quên lãng của thời gian, không danh hiệu, không một chế độ gì đặc biệt! Một người nữa không thể không nhắc đến là chị H’Ben, nguyên là Hiệu trưởng Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Gia Lai, từng là nghệ sĩ số một của Đoàn Văn công Tây Nguyên.

Tôi nhớ hồi ở trên rừng, mỗi khi Đoàn Văn công Tây Nguyên đến biểu diễn, cánh lính trẻ chúng tôi vô cùng háo hức được nghe chị hát. Và đàn em của chị sau này là nghệ sĩ H’Blơng cũng vậy. Các chị đã cống hiến hết tuổi trẻ của mình cho sự nghiệp ca hát, sự nghiệp văn hóa nghệ thuật, tất nhiên về già thì mỗi người đi vào miền quên lãng một cách khác nhau. Chị H’Blơng thì nghỉ hưu với cung cách của một viên chức hết thời, còn chị H’Ben thì về nhà chăm sóc cậu con trai tật nguyền và người chồng nguyên là nghệ sĩ violon bị tai biến nằm một chỗ nhiều năm liền (cả anh và chị vừa ra đi cách đây ít lâu). Ra đi không danh nghĩa nghệ sĩ ưu tú hay nghệ sĩ nhân dân. Không có gì khác biệt.

Tôi không ta thán gì, chỉ là có chút chạnh lòng khi nhắc lại những kỷ niệm với các anh chị…

 

create

Trung Trung Đỉnh / baogialai.com.vn